Trang chủ > Tư vấn đầu tư > Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đứng trước những khó khăn, thách thức trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam,trong giai đoạn 2011-2020, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài nêu trên để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời tích cực góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững. Các giải pháp cụ thể là :

Một là, mục tiêu đến năm 2020 thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phải được điều chỉnh theo hướng chuyển từ thiên về số lượng sang chú trọng nhiều hơn đến hiệu quả thu hút và nâng cao chất lượng đầu tư, tận dụng tối đa nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả, thực hiện nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

>>Thông tin hữu ích<<
*******
– Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
– đầu tư nước ngoài là gì

Tiếp tục xây dựng và thực hiện cơ chế,chính sách khuyến khích để dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài hình thành mạng lưới liên kết sản xuất, kinh doanh, các ngành công nghiệp hỗ trợ để hình thành chuỗi giá trị. Có chính sách thu hút các tập đoàn, công ty đa quốc gia, có chính sách ưu đãi đối với các công ty đa quốc gia, có kế hoạch liên kết với các doanh nghiệp trong nước về tiêu thụ, cung ứng sản phẩm.

 Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Rà soát,bổ sung sửa đổi, thể chế, triển khai áp dụng nghiêm hệ thống quy định về yêu cầu bắt buộc về công nghệ, chuyển giao công nghệ, thu hút, đào tạo kỹ năng cho người lao động. Quy định yêu cầu bắt buộc về chất lượng của các dự án FDI tùy theo lĩnh vực và địa bàn đầu tư.

Hai là, tập trung thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành cần chú trọng tăng tỷ trọng đầu tư nước ngoài như kết cấu hạ tầng giao thông, nông nghiệp và nông thôn, điện, nước, tài chính, tín dụng,y tế, văn hóa,giáo dục, thể thao, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng; các ngành sản xuất có yếu tố hàm lượng công nghệ, đào tạo lao động và chuyển giao công nghệ.

Xác định chú trọng hỗ trợ các hoạt động đầu tư có hiệu quả, đồng thời giảm thiểu những mặt hạn chế, tiêu cực như nhập khẩu nhiều nhưng không chú trọng sản xuất mà chỉ tập trung vào gia công, lắp ráp và khai thác thị trường nội địa là chủ yếu; đầu tư với mục đích lợi dụng kẽ hở về chính sách, pháp luật của Việt Nam để thực hiện hành vi chuyển giá, kê khai lỗ hoặc lợi nhuận thấp để mang lợi nhuận về nước, không có đóng góp hoặc đóng góp rất thấp nguồn ngân sách nhà nước của Việt Nam.

Đối với những dự án đầu tư trực tiếp sử dụng công nghệ cao, có khả năng tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, sinh thái thì chúng ta có thể không tiếp nhận hoặc hạn chế những dự án đó.

Xây dựng các chính sách thu hút đầu tư vào các vùng khó khăn, vùng sâu,vùng xa đồng thời có ưu đãi trong quy định về thuế, phí, đất đai, quản lý ngoại hối… để thu hút, khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực sản xuất, chế biến sử dụng nguyên liệu ở trong nước thay vì nhập khẩu, gia công, lắp ráp.

Ba là, để nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với các chính sách điều chỉnh ngành khác, bao gồm chính sách đầu tư chung, chính sách khu công nghiệp theo hướng hình thành cụm công nghiệp có tính chuyên môn hóa và chính sách phát triển kinh tế vùng.

Bốn là, cần rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài, bảo đảm tính chủ động của các địa phương nhưng cần gắn với trách nhiệm giải trình, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chế tài để tăng cường vai trò điều chỉnh,kiểm tra, giám sát của các Bộ, cơ quan Trung ương trong trường hợp cần thiết